Xu hướng tìm kiếm: Sản Phẩm Fucoidan, Bệnh Ngoài Da...

Trang chủ Bài tiết - Tiết niệu - Gan

Giá: 80,000 Vnđ
Giá khuyến mại: 68,000 Vnđ
0963 50 80 50

Ấn Thủy Nano -Giải pháp cho tiểu đêm , tiểu buốt

Mã sản phẩm: TPCN 001

Quy cách: hộp 30 viên

Hàm lượng:

Tình trạng: Còn hàng

ẤN THỦY NANOGOLD kết hợp các thảo dược quý giúp bổ thận, ấm bàng quang, giúp cải thiện khả năng lọc và tái hấp thu nước của thận, đặc biệt công dụng trong giúp cải thiện chức năng đường tiểu, hỗ trợ điều trị tiểu đêm, tiểu nhiều, tiểu dắt, tiểu khó, tiểu buốt, tiểu không tự chủ.
CAM KẾT HÀNG CHÍNH HÃNG - GIAO HÀNG TOÀN QUỐC

    THÀNH PHẦN CẤU TẠO:
    Cây Barosma betulina             100mg
    Sâm Eurycoma                          80mg
    Hà thủ ô đỏ                               65mg
    Phục linh                                   60mg
    Xà sàng tử                                 55mg
    Ích trí nhân                               55mg
    Thỏ ty tử                                   50mg
    Thạch hộc                                 50mg
    Thục địa                                    45mg
    Tang phiêu tiêu                         20mg
    Phụ liệu: Tinh bột sắn, lactose vừa đủ 1 viên.
     
    THỜI HẠN SỬ DỤNG
    03 năm kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và Hạn sử dụng ghi ở trên hộp.

    CÔNG DỤNG: Giúp bổ thận, tráng dương, hạn chế tiểu đêm, tiểu ngày nhiều lần, tiểu dắt, tiểu khó, tiểu buốt, tiểu không tự chủ.
    ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG
    - Những người bị tiểu nhiều, tiểu đêm, tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu khó, tiểu không tự chủ, tiểu không hết do thận, bàng quang yếu.
    - Trẻ hay đái dầm.
    HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
    Ngày 2 lần mỗi lần 2 viên, uống trước khi ăn 30 phút -1 giờ hoặc sau khi ăn 1 giờ đến 2 giờ.
    Nên dùng thường xuyên từ 3-6 tháng để có hiệu quả tốt nhất

    Bảo quản: Bảo quản nơi khô, mát, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp.

    Cơ chế tác dụng
    CÂY BAROSMA BETULINA       
    Là một loại thuốc truyền thống ở Nam phi, cây Bubu được dùng làm thuốc gây kích thích, thuốc lợi tiểu và giảm các bệnh do tiêu hóa. Trong dược thảo phương tây, nó có giá trị dùng làm thuốc trị nhiễm trùng hệ tiết niệu và lợi tiểu, đặc biệt được dùng để trị viêm bang quang và những bệnh nhiễm trùng khác của cơ quan tiểu tiện, đặc biệt được dùng để trị viêm bang quan và những bệnh nhiễm trùng khác của cơ quan tiểu tiện.
    * Tác dụng chính:
        Trị nhiễm trùng đường tiết niệu
        Lởi tiểu
        Gây kích thích
        Kích thích tử cung.

    * Ứng dụng trong dân gian và điều trị:
    Thuốc dân gian: buchu là một cây thuốc truyền thống của người Khoikhoin ở Nam Phi. Nó được dùng làm thuốc gây kích thích và lợi tiểu. Nó có mùi thơm mạnh, dùng làm thuốc tiêu trị đầy hơi và chướng bụng.
    Ở phương Tây thời kỳ đầu: lần đầu tiên cây dược thảo được xuất khẩu sang nước Anh năm 1790, trở thành cây dược thảo chihs vào năm 1821, được liệt kê vào dược điển Anh là cây thuốc chữa viêm bang quang, viêm ống dẫn niệu, viêm thận, viêm bang quang.
    Trị các bệnh đường tiết niệu hiện đại: Ngày nay, cây buchu được khuyến khích sử dụng rộng rãi trong dược thảo phương Tây để chữa các bệnh về đường tiết niệu như ở thế kỷ XIX. Người ta thường dùng nó để chữa các bệnh về nhiễm trùng cơ quan tiểu tiện, có tác dụng chữa lành bệnh vieme bang quan cấp tính khi dùng kết hợp với các dược thẻo khác như râu bắp, cây bách xù. Sử dụng thường xuyên, nó có thể giúp ngan ngừa sự tấn công trở lại của bệnh viêm bang quan và viêm ống dẫn niệu mạn tính. Nó có thể được dùng để chữa bệnh viêm tuyến tiền liệt và bang quang bị kích thíc, thường được dùng kết hợp với các dược thảo khác như cây thường xanh dây leo và râu bắp. Thành phần hoạt tính của diophenol có tác dụng lợi tiểu và cũng có tác dụng khử trùng cho hệ tiết niệu
    Công dụng phụ khoa: Nước pha hay cồn thuốc làm từ cây buchu rất hữu ích trong việc chữa bệnh viêm bang quang và viêm ống dẫn niệu, đặc biệt khi chúng có liên quan đến vấn đề về nấm candida trước đó, như bệnh nấm trắng ở âm đạo. Nước pha từ cây thường thích hợp hơn cồn thuốc, đặc biệt là khi một bộ phận bị nhiễm trùng. Nước pha chế biến từ cây được dùng làm nước rửa khí hư (chất mủ trắng ở âm đạo) và đôi khi để chữa bệnh nấm candida ở vùng âm đạo. Cây dược thảo này là loại thuốc gây kích thích âm đạo và chứa chất pulegone, chất này cũng có nhiều trong cây bạc hà đắng. Chất pulegone gây phá thai và có công dụng điều kinh rất mạnh (gây kích thích dòng chảy kinh nguyệt). Do đó cây buchu không được dùng cho phụ nữ có thai.
     
    XÀ SÀNG TỬ
    Sa sàng tử có tác dụng táo thấp sát trùng, khu phong tán hàn, ôn thận tráng dương. Chủ trị các chứng: thấp chẩn, thấp sang (lở chảy nước), chàm ghẻ ngứa (giới tiên tao dưỡng), thấp hàn đới hạ, thấp tý yêu thống, dương suy cung lãnh ( đàn ông liệt dương, đàn bà không con). Ngoài ra, vị thuốc này còn giúp chống rối loạn nhịp tim, điều hòa huyết áp; chống hen, trừ đờm, tăng cường chức năng miễn dịch, chống dị ứng, giảm đau, gây tê cục bộ, cải thiện chức năng não, tăng trí nhớ, chống loãng xương...
    Tài liệu tham khảo:- Những cây thuốc và động vật làm thuốc NXB Y học

    ÍCH TRÍ NHÂN
    Ích trí nhân mới thấy dùng trong phạm vi đông y. tính vị ích trí nhân theo đông y là vị cay, ôn, có tác dụng làm ấm thận, vị cầm đi ỉa lỏng. Dùng làm thuốc chữa đái dầm, di mộng tinh, bổ dạ dày.
    (Trang 405, “ Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)

    THỎ TY TỬ:
    Đông y coi thỏ ty tử là một vị thuốc bổ chữa bệnh liệt dương, di tinh, đau lưng, mỏi gối, tai ù, mắt mờ, sốt khát nước, dùng lâu đẹp nhan sắc. Liều dùng: ngày uống 8 đến 16g.
    Theo tài liệu cổ, thỏ ty tử có vị ngọt, cay, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can, thận ích tinh tủy, mạnh gân cốt. Dùng chữa thận hư tinh lạnh, liệt dương, di tính, chân lưng mỏi đau, tiểu tiện đục. Những người dễ cường dương, bí đại tiện không nên dùng.
    (Trang 852, “ Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    Tang phiêu tiêu                     
    Có vị ngọt, tính bình, vào hai kinh can và thận. Co tác dụng ích thận, cố tinh dùng chữa di tinh, đái són, đái nhiều lần, kinh nguyệt bế, những người âm hư nhiều hỏa, bang quang nóng không dùng
    (Trang 723, “ Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    SÂM EURYCOMA
    Tại các nước Đông Nam Á như Indonesia, Brunei, Thái Lan, Campuchia, Lào… bá bệnh (gọi là Tongkat ali) được dùng giúp nam giới tăng cường chức năng sinh lý và sức khoẻ tình dục, bổ sung năng lượng cho cơ thể, giúp giảm stress, mệt mỏi, tăng cường miễn dịch, ngăn ngừa khối u và phòng chống lão hóa.
    Qua nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy cây Eurycoma Longifolia có chứa một số hoạt chất chính như: các hợp chất quassinoid, triterpen, các alcaloid loại canthin, các alcaloid carbolin… Những hoạt chất này có nhiều tác dụng nhưng tác dụng nổi bật nhất của bá bệnh là kích thích tăng tiết testosterone nội sinh. Những kết quả nghiên cứu cho thấy rễ dược thảo này có khả năng làm tăng cường ham muốn tình dục, làm tăng số lượng, kích thước và khả năng di chuyển của tinh trùng, tăng cường độ cương cứng của dương vật, thêm chất lượng cho quá trình quan hệ tình dục và rút ngắn thời gian phục hồi giữa hai lần giao hợp. Ngoài ra, nó còn giúp tăng cường chức năng sinh lý nam giới, hạn chế quá trình mãn dục nam tự nhiên.
    Theo Viện nghiên cứu Forest (Malaysia), Tongkat Ali (tên gọi tại Malaysia của cây bá bệnh) có chứa các enzym chống oxy hóa superoxide dismutase. Các chất này có tác dụng tiêu hủy các gốc tự do có thể gây tổn hại cho những tế bào sống khác.
    Bên cạnh tác dụng giúp tăng cường sinh lực nam giới, chất quassinoids tìm thấy trong bá bệnh có hiệu quả giảm sốt tốt.
    Eurycoma longifolia cũng có khả năng làm ấm cơ thể nhờ làm tăng nhịp tim, đẩy nhanh tốc độ lưu thông máu trong cơ thể. Cây bá bệnh còn chứa anxiolytic tác dụng giảm lo lắng, tăng cường hoạt động trí óc. Việc dùng thảo dược bá bệnh dạng viên bổ sung đem lại tác dụng tương tự như các thuốc chống lo âu, căng thẳng
    Các bước nghiên cứu ban đầu cho thấy cây bá bệnh của Việt Nam có tác dụng cao hơn so với xuất xứ từ các nước khác. Như vậy, việc tìm thấy cây mật nhân (bá bệnh) tại Việt Nam là một tín hiệu khả quan cho nền Đông dược Việt Nam, với triển vọng to lớn về ứng dụng cây thuốc quý này góp phần bảo vệ sức khỏe.
    Tuy cây bá bệnh được một số nước cho rằng có tác dụng cường dương và điều trị mãn dục nam nhưng ở VN chưa có báo cáo khoa học nào tương tự về loại cây này. Theo các nhà dược học thì “mỗi loại thảo dược khi phân bố ở những điều kiện thổ nhưỡng khác nhau thì tính chất hóa học của nó cũng khác nhau. Mặc khác, thời gian thu hái, điều kiện phơi sấy, chế biến cũng quyết định rất nhiều đến các tính chất chữa bệnh của loại thảo dược đó. Trường hợp cây bá bệnh cũng không là ngoại lệ”.
    Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo rằng, dùng rễ cây bá bệnh ở liều cao sẽ gây tác dụng phụ. Hiện tượng thường gặp nhất là mất ngủ kéo dài trong nhiều ngày nên có nguy cơ làm giảm hưng phấn tình dục. Ngoài ra, nó còn làm gia tăng thân nhiệt, gây bồn chồn lo lắng, làm giảm tính kiên nhẫn và có khi gây nóng nảy tức giận. Vì thế những người làm nghề lái xe không nên uống các chế phẩm từ cây bá bệnh này hoặc chỉ sử dụng ở liều thật thấp. Lời khuyên của các chuyên gia là nên uống liều thấp và dùng dài ngày vẫn tốt hơn là dùng liều mạnh trong một ngày. Riêng phụ nữ có thai thì không nên dùng.
    Tuy mang tiếng là cây bá bệnh nhưng những tác dụng trị bệnh của nó không nhiều, chỉ là một số bệnh thường gặp được trị theo kinh nghiệm dân gian. Tuy nhiên, tác dụng “nổi bật” mà hiện nay các nhà sản xuất đang nhắm đến là tác dụng “cường dương, bổ thận” và đặc biệt là chứng mãn dục nam.
     
    THẠCH HỘC:

    Thách hộc thường được dùng chữa những bệnh sốt nóng, khô cổ, khát nước, người háo, bứt rứt, khó chịu.
    Theo đông y, thạch hộc dưỡng âm sinh tân, dùng trong các bệnh tân dịch bất túc như miệng khô, cổ họng khô, hay do tân dịch không đủ mà không muốn ăn, mắt nhìn kém, khớp xương sung đau hay không có lực.
    Theo tại liệu cổ, thạch hộc có vị ngọt, nhạt, tính hoiw lạnh, vào 3 kinh phế, vị và thận. Có tác dụng dưỡng âm, ích vị, sinh tân. Dùng chữa bệnh sốt, tân dịch khô kiệt. Miệng khô khát khổi bệnh mà người vẫn hư nhiệt. Những người hư chứng mà không nóng không dùng được.
    (Trang 640, “ Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    HÀ THỦ Ô ĐỎ
    Thành phần hóa học: Hà thủ ô đã được hai nhà nghiên cứu Nhật Bản nghiên cứu từ năm 1923 (Nhật Bản dược học tạp chí, 43; 144, 1923). Theo tác giả, Hà thủ ô của Tứ Xuyên, Trung Quốc có các chất:
    -  Các chất anthraglucozit với tỷ lệ 1,7% trong đó chủ yếu là chrysophanola, emodin và rhein.
    -  Ngoài ta còn có chất đạm 1,1%, tinh bột 45,2%, chất béo 3,1%, chất vô cơ 4,5%, các chất tan trong nước 26,4%, lecithin.
    Chúng ta đều biết rằng Leucithin là một photphatit kết quả của sự kết hợp giữa acid glyxerophotphoric với một phân tử cholin và hai phân tử acid béo. Lecithin thường được dùng trong những trường hợp thiếu dinh dưỡng, thần kinh suy nhược.
    Các anthraglucoxit có tác dụng làm tăng sự bài tiết của dịch tràng, xúc tiến sự co bóp của ruột giúp cho sự tieu hóa và cải thiện dinh dưỡng.
    * Tác dụng dược lý:
    Mẫn Bính Kỳ đã báo cáo trong Nhật dược chí (11-1-1950) về tác dụng dược lý của hà thủ ô như sau:
    1, Cho thỏ uống nước sắc hà thủ ô rồi theo dõi ảnh hưởng đối với lượng đường trong máu thì thấy sau khi uống 30 phút đến 60 phút, lượng đường trong máu tăng tới mức cao nhất, sau đó giảm dần, 6 giờ sau khi uống thuốc, lượng đường trong máu so với mức bình thường thấp hơn 0,03%.
    2. Lecithin là thành phần chủ yếu của thần kinh hệ cho nên hà thủ ô có thể dùng trong những trường hợp suy nhược thần kinh và bệnh vè thần kinh. Lecithin còn giúp sự sinh ra huyết dịch và bổ tim.
    Dung dịch lecithin pha loãng 1/10.000 đến 1/200.000 có tác dụng làm mạnh tim cô lập, nếu tim đã yếu mệt thì tác dụng lại càng rõ rệt hơn.
    Lecithin là một nguồn photpho dễ hấp thụ và giúp cho hiện tượng chuyển hóa chung được cải thiện.
    3. Do thành phần anthraglucozit, hà thủ ô có tác dụng làm xúc tiến sự co bóp của ruột, xúc tiến sự tiêu hóa, cải thiện dinh dưỡng.
    Công dụng và liều dùng:
    Cho đến nay, hà thủ ô còn được dùng ở phạm vi một vị thuốc nhân dân làm thuốc bổ, trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, ích huyết, khỏe gân cốt, sống lâu, làm đen râu tóc.
    Đối với phụ nữa, hà thủ ô được dùng chữa các bệnh sau khi đẻ, các bệnh xích bạch đới.
    (Trang 833, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Gs. Ts. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học 2004)
     
    Rễ của hà thủ ô có tác dụng bổ máu, chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, kém ngủ, thiếu máu, đau lưng mỏi gối, di mộng tinh, khí hư đại tiểu tiện ra máu, toán bón, da mẩn ngứa không có mủ, uông lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng. Người có huyết áp thấp và đường huyết thấp không dùng hà thủ ô.
    Ở Trung Quốc, người ta dùng hà thủ ô đỏ sống để thông tiểu, giải độc, tiêu ung thũng, chữa táo bón cho phụ nữ sau đẻ hoặc người già, mụn nhọt, ghẻ lở, eczecma, tràng nhạc. Hà thủ ô đỏ đã chế biến có tác dụng bổ gan, thận, dùng làm thuốc an thần, bổ và tăng lực trong các chứng thân thể suy yếu, hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, nhức đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh, trẻ em còi xưởng; để hồi phục sức khỏe cho người già sau khi bị bệnh, phối hợp với sinh địa, bạch thược, cúc hoa; Kích thích tạo hồng cầu và bạch cầu trong các bệnh về máu và thiếu máu. Còn dùng chữa đau mỏi chân tay, di tinh (phối hợp với đương quy, ngưu tất, kỷ tử, thỏ ty tử); chữa sốt rét lâu ngày khí huyết suy nhược (phối hợp với nhân sâm, đương quy, trần bì); giải nhiệt và lợi tiểu, chất làm săn trong điều trị phối hợp chữa tiêu chảy và bệnh tăng lipit máu.
    (Hà thủ ô đỏ, thuốc bổ thận làm chậm lão hóa, Gs. Đoàn Thị Nhu, Tạp chí Dược và Mỹ Phẩm số 7 (6/2011), trang 39)
     
    THỤC ĐỊA:

    Có tác dụng chữa suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, tiêu chảy mạn tính ở người cao tuổi: thục địa 16g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 12g; trạch tả, đan bì, phục linh, phụ tử chế mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
    (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, trang 837 – GS. Ts.Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    PHỤC LINH:
    Thuốc có tác dụng lợi tiểu,
    Thuốc có tác dụng tăng miễn dịch, tăng chỉ số thực bào của phagocyte ở chuột.
    Thuốc có tác dụng kháng ung thư (do thành phần polysacharide của thuốc) do làm tăng miễn dịch cơ thể.
    Thuốc có tác dụng an thần, có tác dụng hạ đường huyết, bảo vệ gan và chống lóet bao tử.
    Nước sắc Phục linh có tác dụng ức chế đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn biến dạng. Cồn ngâm kiệt thuốc có tác dụng giết chết xoắn khuẩn.
     
    Cao Ứng Dấu và Chu Nhĩ Phượng (1955, Trung Hoa y học tạp chí, 10) đã nghiên cứu và báo cáo về tác dụng dược lý của phục linh như sau:
    - Chuẩn bị một số thỏ trong 5 ngày: nhốt từng con vào chuống riêng, mỗi ngày cho mỗi con ăn ngoài đậu đen ra còn cho uống 200ml nước (cho vào cổ họng). Hằng ngày hứng nước tiểu của từng con và cân
    Đến ngày thứ sáu, tiêm vào màng bụng dung dịch 25% phục linh (ngâm bột phục linh 48 giờ với 5 phần cồn 70 độ, lọc, cô thu hồi cồn, thêm nước cất vào thành dung dịch 25%). Mỗi kg thể trọng tiêm 2ml (tương ứng với 0,5g dược liệu) Tiến hành và thoe dõi như vậy trong 5 ngày liền. Sau khi nghỉ thuốc, tiếp tục theo dõi 5 ngày nữa.
    Sau đó tiến hành đối chiếu với lượng tro tương đương vủa dược liệu và thuốc lợi tiểu (mersalylum và theophyllium).
    Kết quả thí nghiệm chứng  minh phục linh có tác dụng lợi tiểu và tác dụng lợi tiểu đó không phải do muố có trong tro của phục linh.
    Công dụng và liều dùng:
    Tính chất phục linh theo tài liệu cổ: có vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 5 kinh tâm, phế, thận, tỳ và vị. Có tác dụng lợi thủy, thẩm thấp, bổ tỳ, định tâm, dùng chữa tiểu tiện khó khăn, thủy thũng trướng man, tiết tả, phục thần định tâm, an thần, chữa hồi hộp mất ngủ.
    Trong nhân dân, phục linh được coi là vị thuốc bổ, lợi tiểu, dùng trong bệnh thủy thũng.
    Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, chữa các trường hợp mất ngủ, hay sợ hãi, di tính.
    (Trang 222, “ Các cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)

    Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh



     
  • Sản phẩm ẤN THỦY NANOGOLD – 1 tuần sử dụng không hiệu quả, trả lại tiền
    Nhà thuốc Vạn Bảo Tín cam kết nếu người mua sử dụng sản phẩm ẤN THỦY NANOGOLD đúng và đủ liều sau 1 tuần mà không có ít nhất 1 trong những cải thiện sau sẽ được hoàn lại tiền.
    - Giảm tiểu đêm, tiểu ngày nhiều lần, tiểu dắt, tiểu khó, tiểu buốt, tiểu không tự chủ.
    - Giảm triệu chứng phù, ớn lạnh, ngứa do thận dương suy
    - Tăng cường chức năng sinh lý
    Quy trình như sau:
    1. Trước khi sử dụng, Quý khách gọi về số điện thoại: 0963 50 80 50 để được Các chuyên gia tư vấn và chăm sóc trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm.
    2. Quý khách mua sản phẩm online qua website www.vanbaotin.vn hoặc qua số điện thoại 0963 50 80 50
    3. Quý khách cung cấp thông tin cá nhân vào email nhathuocvanbaotin@gmail.com:

    • Họ và tên
    • Tuổi
    • Địa chỉ hiện tại
    • Số điện thoại liên hệ
    • Kết quả xét nghiệm và kết luận của Bác sỹ về tình trạng bệnh của quý khách trong thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày kết luận.
    4. Công ty gửi hàng, giao hàng, thu tiền tại nhà quý khách qua bưu điện
    5. Quý khách cam kết uống đủ liều và đủ 1 tuần (7 ngày) liên tục.
    6. Nếu sau 1 tuần sử dụng không có kết quả, nhà thuốc Vạn Bảo Tín sẽ hoàn trả quý khách 100% tiền hàng đã mua, để được hoàn tiền, xin quý khách gửi về công ty chậm nhất là sau 10 ngày theo dấu bưu điện, kể từ ngày mua sản phẩm: toàn bộ bao bì vỏ hộp, vỉ của số lượng sản phẩm quý khách đã sử dụng.
    7. Công ty sẽ chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của quý khách chậm nhất sau 1 tuần kể từ ngày nhận được thư của quý khách sau khi sử dụng sản phẩm. Số tiền hoàn trả lại là 100% giá trị sản phẩm và số tiền cước quý khách đã trả cho bưu điện.
    8. Nhà thuốc Vạn Bảo Tín không cam kết với các trường hợp không thuộc đối tượng sử dụng như công bố trên nội dung sản phẩm.
    Xin trân trọng cảm ơn quý khách !
    Sản phẩm liên quan
    Đăng ký nhận bản tin
  • Đang online: 1 người
  • Tổng số truy cập: 2550901 lượt