Xu hướng tìm kiếm: Sản Phẩm Fucoidan, Bệnh Ngoài Da...

Trang chủ Bệnh xương khớp

Giá: 150,000 Vnđ
Giá khuyến mại: 136,000 Vnđ
0963 50 80 50

VỮNG MẠCH CHI-Giải pháp của suy giãn , tắc tĩnh mạch chi

Mã sản phẩm: TPCN0016

Quy cách: Lọ 30 viên

Hàm lượng:

Tình trạng:

Tăng độ bền tĩnh mạch chi. Phòng ngừa và làm giảm các triệu chứng giãn, tắc tĩnh mạch chi.
CAM KẾT HÀNG CHÍNH HÃNG - GIAO HÀNG TOÀN QUỐC

    THÀNH PHẦN: Cao Dẻ ngựa .Cao Cây Phỉ, Cao Hồng hoa, Rutin, Cao Cam thảo, Cao Đan sâm, Cao xuyên khung, Diếp cá  giúp tăng độ bền tĩnh mạch chi. Phòng ngừa và làm giảm các triệu chứng giãn, tắc tĩnh mạch chi.
    THỜI HẠN SỬ DỤNG
    03 năm kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và Hạn sử dụng ghi ở trên hộp.
    Công dụng:
    Tăng độ bền tĩnh mạch chi. Phòng ngừa và làm giảm các triệu chứng giãn, tắc tĩnh mạch chi.
    - Đối tượng sử dụng: 
    - Dùng cho người bị và có nguy cơ bị suy giãn và viêm tắc tĩnh mạch.
    *Lưu ý: Không dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú

    Hướng dẫn sử dụng:
    - Ngày 2 -3 lần mỗi lần 1 viên, uống trước khi ăn 30 phút hoặc sau khi ăn 1 - 2 giờ
    - Nên dùng thường xuyên

    Bảo quản: Bảo quản nơi khô, mát, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp.

    Cơ chế tác dụng và tài liệu tham khảo
    CÂY PHỈ (Hamanelis virginiana):
    Cây phỉ từng là cây thuốc của các bộ tộc Bắc Mỹ. Họ dùng cao dán tẩm thuốc sắc của vỏ cây để chữa các khối u và bệnh nhiễm trùng, đặt biệt là về mắt, hay để uống chữa bệnh xuất huyết và kinh nguyệt khó lưu thông. Những người định cư ở Chaau Âu vào thế ký XVIII biết được tác dụng cầm máu của cây phỉ, từ đó đã dùng nó ở khắp Châu Âu.
    Tác dụng chính:
        Cầm máu
        Chống viêm
        Làm ngưng chảy máy bên trong và bên ngoài.

    Ứng dụng trong dân gian và hiện tại:
    Những đặc tính đã được biết:
    Cây phỉ chứa một lượng lớn chất tannin. Những chất này có tác dụng làm khô và so lại, gây nên sự thắt chặt protein trên da và xuyên qua bề mặt chỗ da bị trầy. Do đó, tạo lên một phủ bảo vệ làm tang khả năng chống viêm sung và trị lành các chỗ da bị trầy, đồng thời cũng giúp cho các mạch máy bị tổn thương dưới da. Người ta cho rằng, tác dụng này là do tác dụng của chất tannin và flavonoids. Khi chiết xuất, cây phỉ giữ lại chất làm se của nó, người ta cho rằng các chất xúc tác làm se tốt hơn chất tannin hiện có.
    Chữa các bệnh về da:
    Cây phỉ rất có ích để chữa các bệnh da bị viêm sung và quá nhạy cảm, như bệnh chàm bội nhiễm. Nó được dùng trong các trường hợp da không bị hư hại quá nghiêm trọng, giúp bảo vệ các vùng da bị nhiễm trùng và ngan ngừa nhiễm khuẩn.
    Chữa các mạch máu bị tổn thương:
    Cây phỉ rất có ích cho các tĩnh mạch bị tổn thương, các tĩnh mạch bị giãn và cũng là cây thuốc hữu hiệu để chữa các vệt thâm. Do cây phỉ có đặc tính làm se nên giúp giảm bớt sự sung phồng của các mạch máu, phục hồi các cấu trúc thông thường của chúng.
    Các cách dùng khác:
    Dùng làm chất thơm thoa lên da chữa các bệnh cơ bản nhu u nang, u bướu. Cây phỉ còn được dùng làm thuốc rửa mắt cữa các bệnh nhiễm trùng về mắt. Đôi khi người ta cũng dùng nó để làm giảm bớt bệnh tiêu chảy, giúp thắt chặt các màng nhầy của ruột và chữa bệnh xuất huyết ở bất kỳ dạng nào.
    (Trang 139, “Dược thảo toàn thư”, Andrew Chevallier, Biên dịch: Nguyễn Kim Dân, Hiệu đính: Bs. Vũ Hải Long, NXB Tổng Hợp, TP. Hồ Chí Minh)
     
    CÂY DẺ NGỰA (Aesculus hippocastanum)
    Chất trích từ trái dẻ ngựa – trái bóng màu nâu nhạt thường được trẻ con thu nhặt vào mùa thu – có khả năng làm giảm nguy cơ giãn tĩnh mạch và khả năng kiểm soát tình trạng đó. Sử dụng dạng uống hoặc thoa ngoài da, dẻ ngữa sẽ giúp căng các mô làm giảm đau và chỗ sung của chứng giãn tĩnh mạch. Nó cũng có  ích cho chứng bí tiểu.
    Những thử nghiệm lâm sang:
    Một lượng lớn các cuộc thử nghiệm đã chứng minh rằng, cây dẻ ngựa có giá trị cho các vấn đề về mạch máu như giãn tĩnh mạch, loét tĩnh mạch, bệnh trĩ, tê chân tay. Trong một kết quả nghiên cứu ở Lôn Đôn, được xuất bản năm 1996, chất trích từ trái dẻ ngựa có tác dụng đến bệnh giãn tĩnh mạch. Hiên nay, ở Đức chất trích từ dẻ ngựa và chất aesin được dùng hằng ngày để trị chứng giãn tĩnh mạch.
    Ứng dụng trong dân gian và hiện tại:
    Bệnh tuần hoàn:
    Mặc dù cây dẻ ngựa có tác dụng tốt đến tim và động mạch, nhưng chủ yếu là thuốc dùng cho tĩnh mạch. Nó giúp cho sự phát triển vững chắc của thành tĩnh mạch khi chúng bị lỏng hoặc căng phồng do tĩnh mạch bị giãn, bị dồn khối hoặc gây ra các vấn đề tương tự. Nó cũng giúp làm giảm chứng phù nề (chất dẫn lưu bị tắc nghẽn), nguyên nhân do các chất lưu bị rò rỉ từ tĩnh mạch bị căng phồng, các mao mạch dẫn gia tang độ thấm dẫn đến các ống dẫn lưu bị quá tải khi quay trở về hệ tuần hoàn. Ngoài ra, cây dẻ ngựa cũng dùng để chữa các chứng loét ở chân, chứng tĩnh mạch bị giãn, bị dồn khối hoặc bị cứng, làm các chất mỹ phẩm lỏng tốt cho da, dầu gồi đầu và thuốc mỡ. Thuốc sắc từ vỏ hoặc lá cây có thể dùng làm thuốc có chất se trị các chứng giãn tĩnh mạch.
    Bệnh thấp khớp:
    Ở Pháp, dầu trích từ hạt được sử dụng như là loại thuốc tiêu biểu cho bệnh thấp khớp.
    Thuốc chữa bệnh liên quan đến ngực:
    Cây dẻ ngựa có thể làm phương thuốc chữa bệnh về ngực, ở Thổ Nhĩ Kỳ dùng để trị đau ngực ở ngựa. Ở Mỹ thuốc sắc từ lá dẻ ngựa được xem là hữu ích cho bệnh ho gà.
    (Trang 76, “Dược thảo toàn thư”, Andrew Chevallier, Biên dịch: Nguyễn Kim Dân, Hiệu đính: Bs. Vũ Hải Long, NXB Tổng Hợp, TP. Hồ Chí Minh)
    ĐAN SÂM:
    Đan sâm là một vị thuốc còn dùng trong phạm vi nhân dân, để làm thuốc bổ cho phụ nữ, phụ nữ chưa chồng da vàng, ăn uống thất thường, chữa tử cung xuất huyết, kinh nguyệt không đều, đau bụng, các khớp xương sưng đau. Còn dùng chế thuốc xoa bóp.
    Liều dùng 6 – 12g dưới dạng thuốc sắc.
    Trong sách cổ có ghi về đan sâm như sau:
    Đan sâm có vị đắng, tính hơi hàn. Vào 2 kinh tâm và can là thuốc chữa bệnh về máu dùng cho phụ nữ trước và sau khi sinh nở, kinh nguyệt nhiều ít đầu dùng được, vi nó có công dụng trụ ứ huyết, sinh huyết mới, vừa an thai sống, vừa cho ra thai chết, chỉ huyết (cầm máu) điều kinh, tác dụng không kém bài tứ vật – gồm đương quy, tác dụng không kèm bài tứ vật – gồm đương qui, địa hoàng, xuyên khing, bạch thược (theo Lý Thời Trân – Bản thảo cương mục đời nhà Minh Trung Quốc). Còn có tác dụng chữa ung thũng, đơn độc, mẩn ngứa.
    (Trang 819, “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. TS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    HỒNG HOA
    Tác dụng dược lý:
    Nước sắc hồng hoa thì nghiệm trên tử cung cô lập và không cô lập của chuột, thỏ, mèo, chuột bạch và chó thấy có tác dụng kích thích lâu dài.
    Đối với ruột của những con vật đó, cũng có tác dụng kích thích nhưng thời gian ngắn hơn.
    Nước sắc hồng hoa hạ thấp huyết áp của chó và mèo, làm tăng sự co bóp của tim, co nhỉ mạch máu thận và co cơ trơn phế quản của chuột bạch.
    Lưu Thiệu Quang (trung Quốc) có thí nghiệm tác dụng cao lỏng hồng hoa lên tử cung cô lấp của chó, mèo, nhận xét thất dù tử cung của con vật có thai hay không, đều có tác dụng làm tăng sự co giãn, cuối cùng thì không co giãn được nữa. Nếu rửa thuốc đi tử cung trở lại bình thường.

    Công dụng:
    Tính vị theo đông y: Vị cay, ấm, vào hai kinh tâm và can. Có tác dụng phá ứ huyết, sinh huyết mới, chữa kinh nguyệt bế tắc, sản hậu ứ huyết, thai chết trong bụng. Còn có tác dụng giải nhiệt ra mồ hôi. Phàm không ứ trệ, không dùng được.
    Trong đông y hồng hoa dùng chữa kinh nguyệt không đều, bệnh thấy kinh đau bụng, bệnh kinh nguyệt xấu, bệnh mất kinh, bệnh khí hư, viêm dạ con, viêm buồng trứng, có khi dùng uống cho ra thai chết trong bụng.
    Còn dùng trong bệnh viêm phổi và viêm dạ dày.
    Gia vị, àm thuốc nhuộm màu vàng đỏ, dùng làm nguyên liệu chế màu vàng, đỏ không độc để làm thuốc nhuộm hay nhuộm thức ăn.
    (Trang 41, “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. TS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    RUTIN:
    Rutin là một loại vitamin P, có tác dụng tang cường sức chịu đựng của mao mạch. Chữ P là chữ đầu của chữ permeabilite có nghĩa là thấm. Rutin có tác dụng chủ yếu là bảo vệ sực chịu đựng bình thường của mao mạch. Thiếu chất vitamin này tính chất chịu đựng của mao mạch có thể bị giảm, mao mạch dễ bị đứt vỡ, hiện tượng này trước đây người ta chỉ cho rằng do thiếu vitamin  C mà có, gần đây mới phát hiện sự liên quan đối với vitamin P.
    Theo Parrot, có chế tác dụng của vitamin P như sau: Vitamin P là giảm sự phá hủy của adrenalin trong cơ thể. Đồng thời Parrot cũng phát hiện rằng adrenalin cũng có tác dụng tăng sức chịu đựng của mao mạch, nhưng tác dụng này đối với huyết áp lại không giống, cần tiểm 10 đến 30 phút trước thì tác dụng mới xuất hiện và kéo dài vài giờ. Do đó Parrot cho rằng vitamin P cản trở sự phá hủy của adrrnalin trong cơ thể vì thế sức chịu đựng của mao mạch được tăng cường.
    Rutin thường được dùng cho  bệnh nhân bị cao huyết áp mà mao mạch dễ vỡ, đứt, để đề phòng đứt mạch máu ở não, xuất huyết cấp tính do viêm thận, xuất huyết ở phổi mà không rõ nguyên nhân, còn có tác dụng đối với huyết áp cao.
    (Trang 299, “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. TS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)
     
    CAM THẢO:
    Cam thảo là một vị thuốc rất thông dụng trong đông y và tây y. Ngoài ra nó còn được dùng trong kỹ nghệ thuốc lá, nước giải khát và chế thuốc chữa cháy.
    Theo tài liệu cổ, cam thảo có vị ngọt, tính bình (sau khi nước thì tính hơi ôn), vào 12 đường kinh. Có tác dụng bổ tỳ vị, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc, điều hòa các vị thuốc. Muốn thanh hỏa thì dùng sống, muốn ôn trung thì nướng. Nướng lên chữa tỳ hư mà ỉa lỏng, vị hư mà khát nước, phế hư mà ho. Dùng sống chữa đau họng, ung thư.
     
    DIẾP CÁ:
    Tác dụng dược lý:
    Diếp cá có tác dụng lợi tiểu; tính chất lợi tiểu này do chất quexitin và ccác chất vô cơ chứa trong diếp cá. Dung dịch có 1/100.000 phân tử lượng quẽitin vẫn còn có tác dụng lợi tiểu rất mạnh. Chất isoquexetrin cũng có tác dụng lợi tiểu (Nhật dược chí 1936).
    Một ý kiến khác cho rằng những dẫn xuất của dioxỳlavonon (3 -4 dioxyflavonol) đều có tính chất của rutin, nghĩa là tăng sức chịu đựng của vi ti huyết quản làm cho huyết quản khó đứt vỡ. Chất cocdalin có tác dụng kích thích da, gây phồng.
    Công dụng:
    Tính vị theo đông y: cay, hơi lạnh, hơi có độc, vào phế kinh. Có tác dụng tán nhiệt, tiêu ung thũng, dùng chữa phế ung, ngoài dùng chữa ung thung, trĩ vết lở loét. Nhân dân dùng cây diếp cá trong những trường hợp tụ máy như đau mắt (giã nhỏ lá ép vào hai miếng giấy bản đắp lên mắt khi ngủ, làm như vậy hai ba lần) hoặc trong bệnh trĩ lòi dom (sắc uống nước với lêì 6 đến 12g, đồng thời sắc nước lấy hơi xông rồi rửa). Nhiều người dùng thấy hiệu nghiệm
    Ngoài ra còn có tác dụng thông tiểu, chữa bệnh mụn nhọt, kinh nghiệt không đều.
    (Trang 40, “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, GS. TS. Đỗ Tất Lợi, Nhà xuất bản Y học, 2004)

    XUYÊN KHUNG:
    Nhiều tác giả đã nghiên cứu tác dụng dược lý của xuyên khung. Sau đây là một số kế quả chính:
    Tác dụng đối với trung khu thần kinh: Theo Thụ Thượng Sư Thọ (1933), tinh dầu xuyên khung với liều nhỏ có tác dụng ức chế đối với hoạt động của đại não, nhưng đối với trung khu phản ở tủy sống thì lại có tác dụng hưng phấn, kết quả làm cho con vật một phần yên tĩnh, tự động vận động giảm xuống, nhưng mặt khác làm cho huyết áp tăng cao, hô hấp cũng tăng, cơ năng phản xạ cũng tăng, nhưng nếu dùng liều quá cao thì đại não bị tê liệt mạnh, các trung khu và phản xạ tủy sống có thể bị ức chế do đó huyết áp hạ xuống, nhiệt độ cơ thể giảm xuống, hô hấp khó khăn,vận động có thể tê liệt và chết.
    Tác dụng đối với tuần hoàn: Theo Thụ Thượng Sư Thọ (1933) tinh dầu xuyên khung có tác dụng tê liệt đối với tim làm cho các mạch máu ngoại vi dãn ra, liều lớn có thể làm cho huyết áp hạ xuống (đã nói ở trên), phải chăng có liên quan với tác dụng này.

    Hai tác giả khác Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao đã dùng cồn 70O và nước chiết hoạt chất trong xuyên khung chế thành dung dịch 10%, rồi tiêm vào tĩnh mạch chó và thỏ gây mê, thì thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt, hai tác giả này cho rằng tác dụng này có liên quan tới ảnh hưởng của trung khu thần kinh.
    Lý Quảng Túy và Kim Ân Xương (1956) đã nghiên cứu 27 loại thuốc đông y đối với huyết áp (thí nghiệm trên chó và mào đã gây mê) thì xuyên khung là một vị có tác dụng hạ huyết áp rõ tệt và kéo dài dù tiêm mạch máu hay tiêm bắp thịt cũng có tác dụng như nhau (Trung Quốc sinh lý khoa học hội, 1956).

    Tác dụng đối với cơ tim: Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao (1934) đã dùng dung dịch nước của xuyên khung thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ đã có thai, thấy với liều nhỏ dung dịch nước xuyên khung có tác dụng kích thích co bóp của tử cung thỏ có thai, cuối cùng đi đến hiện tượng co quắp, ngược lại nếu dùng liều lớn, tử cung tê liệt và đi đến ngừng co bóp.

    Các tác giả còn thí nghiệm tiêm dung dịch xuyên khung liên tục một thời gian cho thỏ và chuột nhắt trắng có chửa thì thấy cái thai chết trong bụng mà không đẩy ra được. Các tác giả cho rằng vì xuyên khung gây co bóp tử cung, gây ảnh hhuowngr đến dinh dưỡng của thai làm cho thai chết. Các tác giả còn cho rằng vì xuyên khung làm dãn mạch máy cho nên không làm cho cầm maus được. Cổ nhân cho rằng xuyên khung có tác dụng điều trị những phụ nữa sau khi sinh nở mà bị băng huyết là do xuyên khung có khả năng làm co tử cung, làm cho những mạch máu ở vách tử cung áp chặt vào cách tử cung mà gây cầm máu.
    Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao còn nghiên cứu tác dụng của dung dịch nước xuyên khung trên mẩu ruột cô lập (ruột thỏ và chuột bạch) thì thấy nếu dùng liều cao, sự co bóp bị hoàn toàn ngừng hẳn, không khối phục lại được, nếu dùng liều nhỏ thì làm cho mẩu ruột co bóp dần dần mà không có khả năng làm cho ngừng hằn.

    Tác dụng kháng sinh: Theo báo cáo của Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tây, 1950 (Trung hoa y học tạp chí, 68: 307 – 312) thì xuyên khung có tác dụng kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng như vi trùng thương hàn, vi trùng sinh mủ, thổ tả, vi trụng lỵ Sonner v..v..
    Công dụng:
    Theo tài liệu cổ, xuyên khung có vị cay, tính ôn, vào 3 kinh can, đoeẻm và tâm bào. Có tác dụng đuổi phong, giảm đau, lý khí hoạt huyết, dùng chữa kinh nguyệt không đầu, đầu nhức, mắt hoa, ngực bùng đầy trướng, bán thân bất toại, chân tay co quắp, ung thư. Những người âm hư hỏa vượng không dùng được. Xuyên khung là một vị thuốc hay được dùng chữa những triệu chứng nhức đầu, hoa mắt, huyết áp cao, phụ nữa sau khi sinh nở bị dong huyết mãi không ngừng. Còn dùng trong trường hợp đau dạ dày hay đau đớn khác và kinh nguyệt không đều.
  • Sản phẩm VỮNG MẠCH CHI NANOGOLD – 1 tuần sử dụng không hiệu quả, trả lại tiền
    Nhà thuốc Vạn Bảo Tín cam kết nếu người mua sử dụng sản phẩm VỮNG MẠCH CHI NANOGOLD đúng và đủ liều sau 1 tuần mà không có ít nhất 1 trong những cải thiện sau sẽ được hoàn lại tiền.
    - Giảm các triệu chứng mỏi chân, nặng chân, đau bắp chân, cảm giác bị căng nặng.
    - Giảm sưng mắt cá chân.
    - Hạn chế chuột rút
    - Giảm cảm giác châm chít như kiến bò
    - Giảm phù chân
    - Giảm đau cổ chân
    - Giảm bầm tím, nốt đỏ li ti trên da
    - Giảm tê chân, buồn chân, bồn chồn
    - Hạn chế đường vành mạch máu nhỏ hay những đường gân xanh nổi trên da.
    Quy trình như sau:
    1. Trước khi sử dụng, Quý khách gọi về số điện thoại: 0963 50 80 50 để được Các chuyên gia tư vấn và chăm sóc trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm.
    2. Quý khách mua sản phẩm online qua website www.vanbaotin.vn hoặc qua số điện thoại 0963 50 80 50
    3. Quý khách cung cấp thông tin cá nhân vào email nhathuocvanbaotin@gmail.com:
    • Họ và tên
    • Tuổi
    • Địa chỉ hiện tại
    • Số điện thoại liên hệ
    • Kết quả xét nghiệm và kết luận của Bác sỹ về tình trạng bệnh của quý khách trong thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày kết luận.
    4. Công ty gửi hàng, giao hàng, thu tiền tại nhà quý khách qua bưu điện
    5. Quý khách cam kết uống đủ liều và đủ 1 tuần (7 ngày) liên tục.
    6. Nếu sau 1 tuần sử dụng không có kết quả, nhà thuốc Vạn Bảo Tín sẽ hoàn trả quý khách 100% tiền hàng đã mua, để được hoàn tiền, xin quý khách gửi về công ty chậm nhất là sau 10 ngày theo dấu bưu điện, kể từ ngày mua sản phẩm: toàn bộ bao bì
    vỏ hộp, vỏ lọ, nắp lọ của số lượng sản phẩm quý khách đã sử dụng.

    7. Công ty sẽ chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của quý khách chậm nhất sau 1 tuần kể từ ngày nhận được thư của quý khách sau khi sử dụng sản phẩm. Số tiền hoàn trả lại là 100% giá trị sản phẩm và số tiền cước quý khách đã trả cho bưu điện.

    8. Nhà thuốc Vạn Bảo Tín không cam kết với các trường hợp không thuộc đối tượng sử dụng như công bố trên nội dung sản phẩm.

    Xin trân trọng cảm ơn quý khách !
    Sản phẩm liên quan
    Đăng ký nhận bản tin
  • Đang online: 1 người
  • Tổng số truy cập: 2550874 lượt